Những tinh hoa vũ khí Nhật Bản


DATVIET - Những sản phẩm “made in Japan” luôn nổi tiếng thế giới về chất lượng, vũ khí do Nhật Bản sản xuất cũng không phải là ngoại lệ.

Type-90 biểu tượng uy lực của Lục quân Nhật Bản

Không được quảng cáo một cách rầm rộ như T-72, T-80, T-90 của Nga, M1A1/A2 của Mỹ hay Leopard-2A của Đức. Song Type-90 vẫn là một trong những mẫu xe tăng chiến đấu chủ lực hàng đầu của thế giới.

Type-90 có thiết kế ảnh hưởng từ Leopard-2A6 của Đức và sử dụng chung pháo chính Rheinmetall-120mm, theo giấy phép sản xuất từ Đức.

Type-90 được nạp đạn tự động với cơ số 35 viên. Ngoài ra, xe tăng còn có súng phòng không M2HB 12,7mm, súng máy đồng trục 7,62mm.

Type-90 niềm tự hào của tăng thiết giáp Nhật Bản.

Type-90 có lớp giáp bảo vệ tương tự như Leopard-2A nhưng không có giáp dốc 2 bên tháp pháo. Type-90 sử dụng giáp module kết hợp gốm, thép và composite. Thiết kế này cho phép dễ dàng nâng cấp, trao đổi các loại giáp.

Giáp mặt trước của Type-90 có khả năng chống lại đạn APFSDS 120mm, giáp 2 bên tháp pháo có khả năng chống đạn APDS 35mm ở khoảng cách 1000 mét.

Type-90 được trang bị hệ thống điều khiển hỏa lực hiện đại, máy tính đường đạn kỹ thuật số, hệ thống ổn định pháo chính tự động, máy đo xa laser, hệ thống chỉ thị mục tiêu và quan sát ảnh nhiệt tự động cho pháo thủ và chỉ huy.

Các hệ thống điện tử và vũ khí cung cấp phạm vi tác chiến hiệu quả từ 300-5.000 mét. Type-90 là một trong những xe tăng hiện đại trang bị hệ thống nạp đạn tự động, cho phép giảm tổ lái xuống còn 3 người.

Type-90 được trang bị động cơ Mitsubishi 10ZG32WT 10 xy lanh, công suất lên đến 1.500 mã lực, tốc độ tối đa đạt 70km/giờ. Điểm hạn chế của Type-90 là tầm hoạt động tương đối ngắn, chỉ khoảng 350km.

Tiêm kích Mitsubishi F-2

Do chịu sức ép từ Mỹ, Nhật Bản phải mua giấy phép để sản xuất lại tiêm kích F-16 với tên gọi Mitsubishi F-2.

F-2 là kết quả của sự hợp tác giữa tập đoàn Mitsubishi Heavy Industries và Lockheed Martin, công việc được phân chia cho 2 bên theo tỷ lệ 40/60. Công đoạn lắp ráp cuối cùng được thực hiện tại Nhà máy của Mitsubishi Heavy Industries ở Nhật Bản.

Về cơ bản, F-2 giống với F-16 nhưng có diện tích cánh chính và cánh đuôi ngang lớn hơn, phần mũi dài và lớn hơn để phù hợp với một radar mới.

Buồng lái F-2 được trang bị 3 màn hình LCD đa chức năng.

Tuy được chế tạo lại từ F-16 nhưng F-2 có những khả năng mà F-16 không có được.

Cụ thể, F-2 được trang bị một radar mạng pha đa chức năng hoạt động theo từng giai đoạn J/APG-1 do Mitsubishi Electric phát triển, thông số kỹ thuật của radar này đến nay vẫn không được công bố.

Ngoài ra, điểm ấn tượng của máy bay còn phải kể tới hệ thống tác chiến điện tử, hệ thống fly-by-wire hiện đại, máy tính điều khiển kỹ thuật số, hệ thống hiển thị thông tin trên mũ phi công. Ban đầu, phần lớn các thiết bị điện tử do Lockheed Martin cung cấp, về sau Mitsubishi Electric chủ động hợp tác sản xuất.

So với F-16, F-2 được chế tạo với tỉ lệ sử dụng vật liệu composite cao hơn nhằm giảm trọng lượng và độ bộc lộ radar. Khả năng mang tải trọng vũ khí của F-2 cũng lớn hơn so với F-16. F-2 có tất cả 13 điểm treo vũ khí với tổng tải trọng vũ khí lên đến 8.085kg.

F-2 được trang bị 1 động cơ F110 GE-129, cung cấp lực đẩy thô 76kN, lực đẩy có đốt sau 125kN. Tốc độ tối đa Mach-2, tầm hoạt động 834km với nhiệm vụ chống hạm.

Một số phi công Mỹ từng lái F-2 thừa nhận, máy bay này có những khả năng mà F-16 không có.

Gần đây, theo một số thông tin, F-2 sẽ được trang bị radar quét mạng pha điện tử. Radar AESA mang lại một năng lực tác chiến mới mạnh mẽ hơn.

Tàu Aegis lớp Kongo

Dựa trên thiết kế của tàu khu trục lớp Arleigh Burke của Mỹ, Nhật Bản đã phát triển thành công tàu khu trục mang tên lửa điều khiển lớp Kongo được đánh giá hàng đầu thế giới.

So với tàu Arleigh Burke, tàu khu trục lớp Kongo có cấu trúc thượng tầng cao và nhỏ hơn. Tàu được thiết kế với khả năng tàng hình nhẹ, phần boong sau dài hơn, hệ thống phóng tên lửa phía sau tàu được thiết kế bằng với sàn đáp cho trực thăng chứ không cao hẳn lên như nguyên bản, tàu có tải trọng 9.500 tấn, lớn hơn so với tàu khu trục tiêu chuẩn.

Tàu Aegis lớp Kongo vũ khí uy lực của Hải quân Nhật Bản.

Kongo là lớp tàu khu trục đầu tiên ngoài Mỹ được trang bị hệ thống chiến đấu Aegis, sử dụng chung radar AN/SPY-1 như trên một số chiến hạm Mỹ. Điều này mở ra khả năng tham gia hệ thống phòng thủ tên lửa chung với Mỹ tại châu Á.

Tàu khu trục Kongo được trang bị vũ khí tương tự như tàu khu trục lớp Arleigh Burke của Mỹ, gồm: tên lửa chống hạm RGM-84Harpoon, ngư lôi chống ngầm RUM-139, pháo hạm đa năng 127mm, 2 hệ thống phòng thủ tầm gần Phalanx 20mm.

Tàu có khả năng mang theo 90 tên lửa SM-2 hoặc SM-3 block 1A với 29 ống phóng Mk41 phía trước mũi tàu và 61 ở phía sau đuôi tàu. Tàu có sàn đáp cho 2 trực thăng chống ngầm nhưng không có nhà chứa như nguyên mẫu của Mỹ.

Được trang bị 4 động cơ đẩy tuabin khí LM2500 công suất 100.000 mã lực, tàu có thể tốc độ tối đa đạt 30 hải lý/giờ, tầm hoạt động 4.500 dặm.

Hoài bão ATD-X

Tuy mới dừng lại ở mức độ thử nghiệm công nghệ, nhưng mẫu thử nghiệm tiêm kích thế hệ 5 ATD-X đã cho thấy Nhật Bản có đủ khả năng để phát triển một tiêm kích mới đẳng cấp.

Các thử nghiệm khí động học, động cơ đẩy vector 3D đã cho kết quả khả thi. Theo dự kiến, ATD-X sẽ có chuyến bay đầu tiên vào năm 2014. Nếu được chấp thuận đầu tư phát triển, ATD-X sẽ là một đối thủ tiềm năng so với các tiêm kích F-22, F-35, PAK F/A T-50.

Thống kê trên đây chỉ là một phần nhỏ trong số những sản phẩm tiêu biểu của công nghiệp quốc phòng Nhật Bản. Ngoài ra còn những sản phẩm tiêu biểu khác như tàu đổ bộ trực thăng lớp Oosumi, tàu ngầm lớp Oyashio, máy bay tuần tra chống ngầm P-3C Orion... Có thể nói, công nghiệp quốc phòng Nhật Bản như “một con rồng đang ẩn mình”, chờ thời cơ thức tỉnh.

Quốc Việt (tổng hợp)

đọc tiếp »

Đôi nét về CNQP Nhật Bản


DATVIET - Âm thầm, lặng lẽ, không phô trương, nhưng công nghiệp quốc phòng Nhật Bản được xem là hàng đầu trong khu vực châu Á.

Trước và trong chiến tranh thế giới thứ 1 và thứ 2, công nghiệp quốc phòng Nhật Bản được đánh giá thuộc loại hàng đầu thế giới và ngang ngửa với Mỹ.

Khi đó, các loại máy bay chiến đấu như Aichi-D3A, A6M Reisen (Zero), Ki-45... và đặc biệt, thiết giáp hạm Yamoto được xem là chiến hạm hàng đầu thế giới lúc đó.

Sau khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ 2, việc đảm bảo an ninh cho Nhật Bản được thực hiện bởi quân đội Mỹ đóng tại Okinawa và khu vực châu Á. Nhật Bản tập trung vào phát triển kinh tế và tái thiết đất nước. Do đó, công nghiệp quốc phòng Nhật Bản gần như bị đóng cửa hoàn toàn hoặc chuyển sang sản xuất các mặt hàng dân sự.

Công nghiệp quốc phòng Nhật Bản bắt đầu được hồi sinh vào năm 1952 khi một số công ty trong nước thực hiện các công tác sửa chữa và duy trì trang thiết bị quân sự cho quân đội Mỹ tại châu Á. Các tập đoàn mới nổi lên trong lĩnh vực quốc phòng là Mitsubishi, Sumitomo.

Sự hồi sinh đầy đủ được bắt đầu từ sau năm 1954 và ngành công nghiệp quốc phòng trở thành cánh tay đắc lực của JSDF (Cục phòng vệ Nhật Bản). Mọi công việc được bắt đầu từ việc cải tiến trang thiết bị quân sự của Mỹ để sản xuất và sử dụng tại Nhật Bản.

Tính từ năm 1950-1983, công nghiệp quốc phòng Nhật Bản đã nhận được các công nghệ tiên tiến từ Mỹ với giá trị hơn 10 tỷ USD.

Tàu Aegis lớp Kongo, một trong những tàu khu trục hiện đại nhất châu Á do Nhật Bản chế tạo, dựa vào thiết kế tàu lớp Arleigh Burke của Mỹ.

Hồi sinh trong âm thầm và lặng lẽ

Tháng 7/1970, ông Nakasone Yasuhiro lúc đó đang là Giám đốc cơ quan quốc phòng Nhật Bản đã công bố 5 mục tiêu cho việc xây dựng nền công nghiệp quốc phòng Nhật Bản, gồm tổ chức nghiên cứu phát triển, nỗ lực sản xuất vũ khí trong nước, sử dụng các ngành công nghiệp dân sự để sản xuất vũ khí, thiết lập các mục tiêu dài hạn, giới thiệu và cạnh tranh vào lĩnh vực sản xuất quốc phòng. Tất cả để nhằm mục đích duy trì các cơ sở công nghiệp phục vụ cho an ninh quốc gia.

Tính đến cuối thập niên 1970, công nghiệp quốc phòng Nhật Bản đã có đủ khả năng sản xuất hầu hết các trang thiết bị quân sự hiện đại bao gồm máy bay, xe tăng, pháo, tàu mặt nước và tàu ngầm...

Ngoại trừ một số trang thiết bị quá phức tạp như máy bay chỉ huy và cảnh báo sớm trên không E-2C Hawkeye được nhập khẩu hoàn toàn từ Mỹ, các trang thiết bị còn lại phần lớn được sản xuất trong nước.

Trong đó, có thể kể tới một số sản phẩm rất tinh vi như máy bay chiến đấu F-15, máy bay tuần tra hàng hải và chống ngầm P-3C Orion.

Sự phát triển kinh tế cho phép Nhật Bản chi mạnh tay hơn cho quốc phòng. Tính từ năm 1986-1990, Nhật Bản đã bỏ hơn 18,4 nghìn tỷ Yên cho hoạt động mua sắm quốc phòng trong nước.

Chịu nhiều hạn chế

Tháng 10/1985, Cơ quan quốc phòng Nhật Bản bắt đầu xem xét các lựa chọn máy bay chiến đấu mới cho chương trình FSX.

Các tùy chọn bao gồm, phát triển một mẫu mới được thiết kế hoàn toàn trong nước, hoặc dựa trên một mẫu sẵn có từ nước ngoài, thứ 3 là sản xuất theo giấy phép của nước ngoài.

Ban đầu các quan chức quốc phòng ủng hộ việc phát triển một mẫu mới trong nước. Tuy nhiên, sau khi tham khảo ý kiến và chịu nhiều sức ép của Mỹ. Cuối năm 1986, Cơ quan quốc phòng Nhật Bản buộc phải xem xét thỏa thuận hợp tác với Mỹ.

CNQP Nhật Bản đủ sức để tạo ra một tiêm kích đẳng cấp hơn Mitsubishi F-2 nếu không phải chịu áp lực từ phía Mỹ.

Tháng 10/1987, Nhật Bản và Mỹ đã có cuộc họp tại Washington để bàn về việc hợp tác nâng cấp tiêm kích F-15 hoặc F-16. Cơ quan quốc phòng Nhật Bản quyết định chọn F-16 để sản xuất trong nước theo giấy phép với tên gọi Mitsubishi F-2.

Thỏa thuận này vấp phải sự chỉ trích nặng nề từ Quốc hội Mỹ, theo đó, một số nghị sĩ Mỹ đánh giá sự hơp tác này làm tăng nguy cơ rò rỉ công nghệ cao. Sau nhiều thời gian tranh cãi, mãi tới đầu năm 1989, Mỹ yêu cầu sửa đổi thỏa thuận và chỉ chuyển giao 40% công việc cho Nhật Bản.

Kể từ sự kiện này, các nhà hoạch định quốc phòng của Nhật Bản có xu hướng tự cung cấp đối với các nghiên cứu quốc phòng trong tương lai.

Do quy định tại điều 9 trong Hiến pháp Hòa bình, các sản phẩm quốc phòng Nhật Bản xuất khẩu ở dạng linh kiện, chủ yếu là các thiết bị điện tử kỹ thuật cao sử dụng cho các phương tiện vận tải và thông tin liên lạc, hoặc thông qua một bên thứ 3 để cung cấp linh kiện cao cấp cho sản xuất tên lửa và máy bay, chủ yếu là tại Mỹ.

Nếu được đầu tư ATD-X sẽ là một tiêm kích thế hệ 5 đẳng cấp.

Xứng tầm anh cả trong khu vực

Nhật Bản đã thực hiện chính sách giới hạn về quân đội và không xuất khẩu vũ khí. Những vũ khí mà họ sản xuất chủ yếu để phục vụ nhu cầu của Lực lượng phòng vệ nước này. Quy mô nền công nghiệp quốc phòng của Nhật Bản không lớn và không rầm rộ, không phô trương như các nền công nghiệp quốc phòng lớn khác như Nga, Mỹ hay gần đây nhất là Trung Quốc.

Nhưng với thực lực kinh tế và khoa học công nghệ hiện nay, nếu được đầu tư đúng mức và cho phép xuất khẩu, Nhật Bản được xem là một trong những quốc gia hiếm hoi tại châu Á đủ khả năng xây dựng một nền công nghiệp quốc phòng tầm cỡ.

Không chú trọng nhiều vào việc tạo ra các mẫu vũ khí mới, tuy nhiên không phải vì thế mà công nghiệp quốc phòng Nhật Bản không có những sản phẩm tinh hoa.

Xe tăng chiến đấu chủ lực Type-90, máy bay tiêm kích Mitsubishi F-2, tàu khu trục Aegis lớp Kongo là những ví dụ, chỉ có điều các sản phẩm này chưa bao giờ được giới thiệu một cách rầm rộ nên ít được biết đến.

Nhật Bản cũng được xem là quốc gia có đủ khả năng nhất để phát triển một mẫu tiêm kích thế hệ 5, được xem là thách thức với F-22 của Mỹ, PAK F/A T-50 của Nga hay gần đây nhất là J-20 của Trung Quốc.

Hiện tại, CNQP Nhật Bản có tất cả 12 nhà sản xuất, chiếm đến 95% đơn hàng quốc phòng trong nước. Trong đó Mitsubishi Heavy Industries, Kawasaki Heavy Industries, Mitsubishi Electric Corporation, Ishikawajima-Harima Heavy Industries, được xem là những tập đoàn chế tạo vũ khí hàng đầu khu vực cũng như thế giới.

Gần đây, Chính phủ Nhật Bản đang xem xét cho phép xuất khẩu vũ khí, nếu điều này thành hiện thực, Nhật Bản sẽ là một đối thủ đáng gờm đối với các nước xuất khẩu vũ khí lớn như Nga, Mỹ, Anh.

Quốc Việt (tổng hợp)

đọc tiếp »

Siêu xe của tổng thống Obama có gì đặc biệt?


VNN - Chiếc limousine của Tổng thống Mỹ Barack Obama, còn gọi là Cadillac 1, bắt đầu được đưa vào hoạt động ngày 20/1/2009. Dù giá tiền của nó không được công bố song có tin xe này hơn 1 triệu USD.


Kể từ những năm 1930, chính phủ Mỹ đã trang bị xe hơi đặc biệt cho người đứng đầu nhà nước. Xe của Tổng thống thường có thiết bị thông tin hiện đại và các tiện nghi đặc biệt, được bọc sắt và có thể chống lại những cuộc tấn công. Theo thông lệ, xe của Tổng thống là xe do Mỹ sản xuất. Chiếc Cadillac 1 hiện nay của Tổng thống Obama, còn có tên là The Beast, nhìn giống một chiếc Cadillac DTS kéo dài song trên thực tế nó lại dựa trên mẫu chiếc Topkick của General Motors Corporation (GMC).

Theo nhà sản xuất General Motors, chiếc limousine 2009 của Tổng thống Obama là chiếc đầu tiên không mang tên mẫu riêng biệt. Bề ngoài chiếc xe này giống xe Cadillac nhưng không giống hệt một mẫu nào của Cadillac. Thân xe dường như là một phiên bản có sửa đổi của chiếc Cadillac DTS nhưng khung gầm và bộ truyền động lại tương tự chiếc xe tải Topkick của GMC. Nhiều bộ phận trên thân xe giống xe Cadillac như đèn pha, gương cạnh và tay nắm cửa.


Hầu hết các chi tiết của xe được giữ bí mật vì lý do an ninh. Tuy nhiên, có nhiều nguồn tin cho biết, chiếc xe được bọc sắt dày ít nhất 12,7cm, bánh xe được gắn loại lốp đặc biệt cho phép xe vẫn chạy được trong một khoảng thời gian nếu bị xì hơi.

Cửa xe nặng tương đương cánh cửa buồng lái của máy bay Boeing 757. Động cơ được trang bị hệ thống bơm tăng nạp Eaton Twin Vortices Series 1900. Thùng xăng xe có thể chống rò rỉ và chống nổ.

Do kính xe dày nên ánh sáng tự nhiên không thể lọt vào trong, vì vậy, hệ thống chiếu sáng huỳnh quang trên trần xe là rất cần thiết. Người ngồi trong xe chỉ có thể nghe được âm thanh của đám đông bên ngoài thông qua một hệ thống loa bên trong.

Chiếc xe được bít kín để chống lại các cuộc tấn công sinh hóa học, có hệ thống cung cấp oxy riêng và hệ thống chữa cháy gắn kèm trong xe. Xe của Tổng thống Obama còn được trang bị 2 hệ thống tăng cường tầm nhìn, cho phép lái xe hoạt động trong điều kiện môi trường bị khói, mù hoặc hoàn toàn tối tăm. Ngoài ra trong xe còn có một ngân hàng máu, đúng loại máu của Tổng thống.


Có một điểm lạ nữa trên xe của Tổng thống Mỹ là không có lỗ cắm chìa khóa trên cửa. Việc mở cửa xe không chỉ đơn giản là kéo nắm đấm cửa mà dường như chỉ có duy nhất lực lượng mật vụ biết chính xác cách mở cửa. Không một cửa sổ nào trên chiếc The Beast có thể kéo xuống ngoại trừ cửa sổ của lái xe, vốn chỉ đủ để đưa một chiếc bánh qua.

Với tốc độ tối đa là 96,5km/h, chiếc siêu xe của Tổng thống Mỹ chắc chắn không thể chiến thắng trong bất kỳ cuộc đua xe nào. Tuy nhiên, tốc độ này không hề tồi với một chiếc xe nặng tới 8 tấn.

Xe có thể chở được 7 người, gồm cả Tổng thống, phía trước có 2 ghế và gồm cả bảng điều khiển trung tâm thông tin. Một khẩu súng hiệu Remington được cất dưới ghế lái xe, ở đoạn giữa ghế và cánh cửa. Một bức liếp bằng kính ngăn đôi phía trước và phía sau. Phía sau có 3 ghế ngồi đối mặt nhau, có thể ngả xuống riêng rẽ.

Người điều khiển xe là một đặc vụ được huấn luyện kỹ càng, có khả năng quay ngoặt hình chữ J trong vài giây để tránh rắc rối.

Khi đi lại trong nước, chiếc Cadillac 1 của Tổng thống thường treo quốc kỳ Mỹ và cờ chuẩn Tổng thống. Khi Tổng thống đi công cán ở nước ngoài, chiếc cờ chuẩn sẽ được thay bằng cờ của quốc gia sở tại. Việc chuyên chở chiếc xe trong và ngoài nước bằng đường không do không lực Mỹ đảm nhận.

Lê Nguyễn (Theo Secret, DailyMail, Jalonik)

đọc tiếp »

Điểm danh các vũ khí tối tân của Mỹ


PNTD - Nhân tròn 10 năm sự kiện vụ 11/9, Defencetech.com đã tổng hợp một loạt các vũ khí tối tân của Mỹ trong thập kỉ vừa qua. Hàng loạt các loại vũ khi tối tân đã được thiết kế thay đổi dần dần để có khả năng thích ứng với nhu cầu chiến tranh “cường độ thấp”. Điều này thể hiện qua việc cắt giảm chi phí mua chiến cơ F-22, tăng chi phí mua các máy bay không người lái công nghệ tương đối thấp và máy bay chân vịt ISR. Tuy nhiên, khi các cuộc chiến dần lắng xuống thì các vũ khí công nghệ cao với chi phí thấp quay trở lại.

Sự gia tăng của máy bay không người lái

Máy bay không người lái X-47B

Chúng ta không thể không nhắc đến chiến đấu cơ UAV, dù nó xuất hiện trước sự kiện 11/9 nó vẫn được tăng cường sản xuất phục vụ cho cuộc chiến tranh ở Afghanistan và Iraq. Tháng 10 năm 2001, Mỹ nắm trong tay khoảng trên dưới 100 chiếc MQ-1 predator. Tháng 2 năm 2002, những chiếc MQ-1 predator được trang bị tên lửa tiêu diệt Al-quaeda, mở đầu cho chiến dịch đánh bom bằng máy bay không người lái.

Máy bay không người lái MQ-1 predator

Máy bay không người lái MQ-9 Reaper

UVA Predator

Ngay sau đó Lầu năm góc tung ra “anh trai” của Predator là chiến cơ MQ-9 Reaper và RQ-4 Global Hawk. Tuy nhiên, Global Hawk vẫn không thể thay thế được U-2 Dragon Lady. Chúng ta cũng không thể bỏ qua hàng chục chiếc UAV nhỏ của các đơn vị bộ binh sử dụng trong các tình huống bất ngờ.

Thế kỉ 21 là thời điểm phát triển mạnh mẽ của máy bay tàng hình, máy bay không người lái và máy bay phản lực của Hải quân như X-47B và UCLASS để thực hiện các vụ tấn công đầu trên, còn nhiệm vụ trinh sát vẫn thuộc về máy bay có người lái.

Những tiến bộ trong chiến tranh điện tử


Máy bay chiến đấu hỗn hợp F-35

Máy bay “EA Growler” của Không quân Mỹ là loại máy bay “tấn công điện tử” mới nhất được quân đội Mỹ thử nghiệm trên chiến trường

Hàng trăm triệu được đầu tư vào thiết bị làm nhiễu cầm tay và có thể gắn trên xe được đưa tới áp dụng tại trận chiến ở Trung Đông. Các máy bay RC-135 Rivet, EC-130 Compass call cũng được lắp đặt các thiết bị tấn công điện tử giúp phát hiện các tín hiệu và chặn các thông tin liên lạc của kẻ thù . E8- Jointed Stars sử dụng các thiết bị ra đa quét mặt đất để dò bom dưới mặt đất. Máy bay “EA Growler” của Không quân Mỹ là loại máy bay “tấn công điện tử” mới nhất được quân đội Mỹ thử nghiệm trên chiến trường. Mỗi thiết bị điện tử được gắn vào hai cánh máy bay và thực hiện các chức năng khác nhau, kể cả xác định vị trí của các trận địa ra đa của đối phương, ngăn chặn và gây nhiễu các tín hiệu của các máy thông tin liên lạc và theo dõi thay đổi chiến thuật của các ra đa đối phương. Ngoài ra thiết bị làm nhiễu gắn trên các thế hệ máy bay chiến đấu hỗn hợp F-35 cũng được áp dụng trong các trận chiến.

Xe bọc thép

Xe bọc thép vận chuyển lính bộ MRAP

Trong các trận chiến xe bọc thép MRAP được sử dụng thay thế cho loại xe bọc thép mỏng Humvees kém an toàn khi vận chuyển bộ binh. Những chiếc xe MRAP được thiết kế nhỏ gọn phù hợp với địa hình ở Afghanistan.

Chiến tranh ảo


Việc tung virus Stuxnet phá hủy chương trình hạt nhân của Iran là một ví dụ điển hình cho cuộc chiến ảo bằng công nghệ tiên tiến.

Máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm

Trực thăng V-22 Osprey

Eagle F-15 là máy bay chiến đấu mạnh nhất của Không quân Mỹ, nó là máy bay tàng hình, tốc độ cao với hệ thống cảm biến tiên tiến . Vào cuối thập kỉ này, Osprey V-22 được áp dụng phổ biến trong quân đội Mỹ. Trực thăng V-22 Osprey là loại chiến đấu cơ lên thẳng đa năng, có thể cất, hạ cánh thẳng đứng trên đường băng ngắn, khi hạ cánh có thể thực hiện thao tác giống như hạ cánh của máy bay phản lực. V-22 Osprey là sản phẩm trực thăng hoàn hảo, kết hợp những chức năng của máy bay trực thăng và máy bay phản lực với tầm hoạt động rộng, tốc độ cao và khả năng vận hành linh hoạt.

Tàu chiến duyên hải LCS

Lính Mỹ được trang bị với vũ khí tối tân

Pha lê (Theo Defencetech)

đọc tiếp »

Rác vũ trụ nặng hơn 6 tấn sắp rơi xuống trái đất


VNE - Một vệ tinh hỏng của Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) sắp rơi xuống trái đất và nhiều người lo ngại các mảnh vỡ của nó có thể gây nguy hiểm cho các khu dân cư.

Discovery đưa tin Vệ tinh Nghiên cứu Tầng thượng quyển của trái đất (UARS) của NASA sẽ rơi khỏi quỹ đạo của nó vào cuối tháng 9 hoặc đầu tháng 10. Vệ tinh này, có khối lượng 6 tấn, được một tàu con thoi đưa lên quỹ đạo vào tháng 9/1991 để đo ozone và các hóa chất khác trong bầu khí quyển trái đất. Sứ mệnh của nó kết thúc vào năm 2005.

Sau đó UARS trở thành một trong hơn 20 nghìn mảnh rác vũ trụ mà không lực Mỹ theo dõi. Trên thực tế, với đường kính thân vào khoảng 4,5 m và khối lượng 5.850 kg, nó là một trong những rác vũ trụ lớn nhất gần trái đất.

“Mặc dù UARS sẽ vỡ thành nhiều mảnh khi lao xuống trái đất, một số mảnh sẽ không cháy hết trong bầu khí quyển”, NASA thông báo.

Vệ tinh nghiên cứu tầng thượng quyển của trái đất ngừng hoạt động từ năm 2005 và sắp lao xuống địa cầu. Ảnh: Discovery.

NASA nhấn mạnh rằng những mảnh rác vũ trụ đã rơi trở lại địa cầu từ khi kỷ nguyên vũ trụ bắt đầu nửa thế kỷ trước, song người ta chưa tìm thấy bằng chứng nào cho thấy chúng gây nên thương vong cho người hay thiệt hại về tài sản.

“Còn quá sớm để nói chính xác khi nào UARS sẽ rơi và khu vực nào sẽ chịu ảnh hưởng”, NASA tuyên bố.

Viện Khoa học quốc gia Mỹ cảnh báo lượng rác vũ trụ xung quanh trái đất đã đạt tới ngưỡng nguy hiểm và chúng có thể phá hoại vệ tinh nhân tạo, phi thuyền bất cứ lúc nào.

Rác vũ trụ là phi thuyền không còn hoạt động, vệ tinh nhân tạo cũ, tên lửa đã qua sử dụng hay mảnh vỡ từ các vụ va chạm vệ tinh nhân tạo. Chúng bay xung quanh trái đất với tốc độ có thể lên tới 28.163 km/h. Với tốc độ đó, một mảnh rác nhỏ xíu cũng có thể làm hỏng phi thuyền.

Minh Long

đọc tiếp »

"Lời nguyền" của xác ướp 5.300 năm


VNPLUS - Một xác ướp cách đây 5.300 năm đã trở nên nổi tiếng bởi sự bảo quản tuyệt vời nhờ băng tuyết, và nhất là những bí ẩn kinh hoàng xung quanh nó khiến người ta không thể lý giải được.

Người ta vẫn quen gọi là “Lời nguyền của người băng Otzi.” Đó là "Người băng Otzi" - đây cũng là tên gọi của một xác ướp tự nhiên được bảo quản trong tuyết lạnh có niên đại cách đây 5.300 năm.

Xác ướp này được các nhà khoa học phát hiện ra từ năm 1991 trên dãy núi Alps, biên giới của nước Áo và Italy. Tên của xác ướp được các nhà khảo cổ đặt theo tên của thung lũng nơi nó được tìm thấy.

Xác ướp Người băng Otzi

Xác ướp này được xác định là của một người đàn ông và được xem là xác ướp cổ nhất được bảo quản tự nhiên ở châu Âu.

Hiện xác ướp đang được trưng bày tại một viện bảo tàng ở phía Bắc Italy. Không giống những xác ướp khác, xác ướp Otzi dù đã được các nhà khoa học thực hiện hàng trăm nghiên cứu nhưng vẫn ẩn chứa nhiều bí ẩn bất thường.

Mặc dù xác ướp được xác định là có niên đại khoảng 5.300 năm, thế nhưng, trên xác ướp người ta lại thấy một mũi tên có niên đại 7.000 năm, một chiếc rìu thuộc niên đại 2.000 năm và một chiếc áo niên đại 8.000 năm. Điều này cho thấy, không lẽ người đàn ông này đã sử dụng tên và áo khoác của cụ tổ nhưng lại cầm rìu của… con cháu mình.

Từ đó, các nhà khoa học đưa ra giả thuyết, đây có thể là một phù thủy có khả năng đi xuyên thời gian nên ông ta mới có được những vật dụng của các thời đại khác nhau…

Và, đến cả nguyên nhân về cái chết của người băng cũng là bí ẩn. Cho đến nay, các nhà khoa học vẫn không thể xác định được người đàn ông này chết là do bị giết hay gặp bão tuyết hoặc bị hiến tế…???

Xác ướp này được phát hiện bởi một cặp vợ chồng người Đức là Helmut và Erika Simon. Ban đầu, người ta nghĩ đây chỉ là một xác chết bình thường. Và, tất cả họ không biết rằng, xác ướp có niên đại 5.300 năm và từ nó đã dẫn tới một loạt những tai họa sau đó. Có một sự thật không thể phủ nhận là 7 mạng người liên quan tới người băng Otzi đều biến mất.

Nạn nhân đầu tiên chính là người đã tìm ra xác ướp này - ông Helmut Simon. Ông này đã đòi hơn 100.000 USD tiền công tìm ra xác ướp và được đồng ý.

Ông đã vui mừng trở lại vùng núi tuyết để ăn mừng nhưng bỗng nhiên một cơn bão tuyết xuất hiện đột ngột đã vùi chết Helmut. Ông ta được tìm thấy trong tư thế co ro y như người băng.

Người thứ 2 là giáo sư Rainer Henn, 64 tuổi, dẫn đầu đội nghiên cứu xác ướp, người đã tham gia quá trình khám nghiệm người băng.

Một lần, khi đang trên đường đến một buổi hội thảo về người băng Otzi, xe của Henn đâm vào một chiếc xe khác và ông chết ngay lập tức. Các cơ quan an ninh đã không tìm được nguyên nhân của vụ tai nạn.

Nạn nhân thứ 3 là nhà leo núi kinh nghiệm Kurt Fritz, người đã đưa giáo sư Henn cũng như nhiều người khác tham quan khác vị trí tìm ra người băng cũng bị tuyết vùi chết trong khi những người khác thoát nạn.

Nạn nhân thứ 4 là nhà làm phim Rainer Hoelzl - người đã đưa những tư liệu về người băng lên màn ảnh và công bố chúng ra khắp thế giới. Ông bị chết vì một căn bệnh lạ khiến ông đau đớn quằn quại trong nhiều tháng sau khi bộ phim tư liệu của mình được công chiếu.

Dieter Warnecke, 45 tuổi, người đã tìm ra chỗ Helmut Simon bị chôn vùi, là nạn nhân thứ 5. Chỉ vài giờ sau lễ an táng của Simon, Dieter chết do đau tim, dù cho thể trạng sức khỏe của ông rất tốt.

Konrad Spindler, 66 tuổi, là một nhà khoa học, đứng đầu một nhóm nghiên cứu, người từng thực hiện các khám nghiệm trên xác ướp người băng năm 1991. Konrad đột ngột chết mà không rõ nguyên nhân.

Tom Loy, 63 tuổi, một nhà khảo cổ học, người đã phân tích những mẫu máu trên vũ khí và quần áo của người băng là nạn nhân thứ 7. Ông này chết khi đang thực hiện những nghiên cứu về người băng.

Từ sau 7 cái chết bí ẩn, ai cũng sợ rằng mình là nạn nhân tiếp theo. Tại địa điểm trưng bày người băng, có nhiều khách tham quan cứ nhìn vào người băng là ngất mà không phải do phòng trưng bày thiếu khí.

Đến tận bây giờ, vẫn không ai lý giải nổi các câu hỏi về thân thế, cuộc đời của người băng. Và "lời nguyền" dẫn tới 7 cái chết kia có thật hay không, cũng không ai biết đích xác./.

Bích Hà (Vietnam+)

đọc tiếp »

Ảo giác tàu sân bay


TP - Có lẽ cụm từ “tàu sân bay” chưa bao giờ được nhắc nhiều như giai đoạn này, khi các nước lớn nhỏ, để phô trương sức mạnh thực sự (hay cố gắng thổi phồng) đều tìm mọi cách sở hữu chúng, hoặc gia tăng số “căn cứ hải quân nổi” kiểu này.

Tàu USS Theodore Roosevelt (Mỹ).

Theo nhận thức đương thời, hàng không mẫu hạm với khả năng cơ động, đa năng, đặc biệt cho phép chủ sở hữu phát huy sức mạnh không quân không cần căn cứ ở ngoại quốc, được cho là thứ vũ khí tốt nhất để thực hiện các chiến lược an ninh quốc gia.

Trong thực tế, tính từ năm 1945, từ các kịch bản hậu thế chiến liên quan các cuộc tấn công trả đũa Liên Xô hay bắt giữ các lãnh đạo Mặt trận giải phóng Palestine, hàng không mẫu hạm luôn là thành tố quan trọng của quân đội Mỹ.

Một điều không thể phủ nhận: Hàng không mẫu hạm là thành tựu khoa học rất ấn tượng, vì việc làm sao để chiến đấu cơ cất và hạ cánh an toàn trên biển, đặc biệt là trong đêm hay trong các điều kiện thời tiết phức tạp, là rất khó khăn.

Tuy nhiên, việc triển khai, sử dụng các hàng không mẫu hạm không đơn giản, không chỉ về khía cạnh kỹ thuật mà còn cả ở mặt tài chính hay chính trị. Khi triển khai tàu sân bay, chính phủ Mỹ không chỉ phải đối đầu với các nước khác mà ngay cả dân chúng Mỹ hay đảng đối lập cũng có thể lên tiếng chỉ trích vì phí tổn đắt đỏ chi cho hoạt động này.

Do vậy, người ta phải cân nhắc rất kỹ về lợi ích quốc gia khi quyết định triển khai tàu sân bay, điều này cũng đồng nghĩa các nhà điều hành quân sự phải xác định nhiệm vụ nào là tối quan trọng đối với an ninh quốc gia để có thể điều tàu sân bay.

Tàu sân bay là hổ giấy?

Điều đáng ngạc nhiên, theo các chuyên gia, giá trị thực của tàu sân bay gần đây dường như bị giảm sút do những hành động chính trị sai trái. Theo tác giả David Isenberg, từ Trung tâm An ninh Quốc phòng (Mỹ), một số lãnh đạo quốc gia không chắc chắn dám sử dụng vũ lực, nhưng cũng không sẵn sàng chấp nhận sự bất lực của mình, thường quen lấp liếm bằng cách phái hàng không mẫu hạm đến khu vực khủng hoảng, nơi lợi ích quốc gia đang bị đe dọa.

Tàu sân bay được lệnh xuất phát, đi kèm là cả loạt tàu hộ tống. Những cảnh quay được thực hiện ở một vùng biển xa là điều kiện lý tưởng cho những thước phim “quảng bá” của truyền hình. Trong các cuộc chiến gần đây, có vẻ vai trò của các tàu sân bay đối với cuộc khủng hoảng không đáng kể. Đã có người bình luận: Lần tới, nếu đâu đó có khủng hoảng, sẽ lại có tàu sân bay xuất hiện, cùng với đội tàu hộ tống. Nhưng chắc chắn sự hoảng sợ về sự xuất hiện hàng không mẫu hạm sẽ dần giảm đi sau những lần ấy.

Giới hạn của tàu sân bay thực tế không phụ thuộc vào chính nó mà nằm ở số lượng máy bay của quân đội có thể triển khai trên hàng không mẫu hạm. Nếu hải quân Mỹ có 15 hàng không mẫu hạm (thay vì 12 hiện nay), thì nhiều khả năng sẽ không có đủ máy bay để triển khai trên những căn cứ nổi khổng lồ ấy.

Một nghiên cứu năm 1987 cho thấy, hải quân Mỹ đã không thể mua đủ số lượng máy bay cần thiết, điều này cho thấy khoảng cách giữa yêu cầu của hải quân và các bên liên quan. Điều này có vẻ đang lặp lại ở Trung Quốc, khi họ loan báo sắp triển khai tàu sân bay nhưng khả năng các chiến đấu cơ J-15 (tương đương phiên bản dòng Su-33 của Nga) vẫn chưa chắc chắn được phiên chế vì một loạt vấn đề liên quan động cơ và những yếu tố kỹ thuật khác.

Đó là chưa kể các loại máy bay tác chiến đi kèm. Cho đến những năm gần đây, quân đội Mỹ vẫn phải dùng máy bay tác chiến điện tử EA-6B Prowler cũ kỹ có từ chiến tranh Việt Nam và gần đây mới có khả năng chuyển sang loại EA-18 Growler, phát triển từ chiến đấu cơ F/A-18.

Máy bay tác chiến điện tử có nhiệm vụ loại trừ, ngăn cản hoặc làm giảm hiệu quả các hệ thống chỉ huy, khả năng điều khiển vũ khí bằng phương tiện điện tử của đối phương và bảo đảm ổn định tối đa cho hoạt động của các hệ thống trước tác động của đối phương trong chiến tranh.

Về phương diện này, Mỹ còn gặp nhiều vấn đề thì chưa thể nói các quốc gia sở hữu và chuẩn bị sở hữu tàu sân bay có thể giải quyết trong một sớm một chiều.

Tương quan tàu sân bay

Cho đến nay, có 9 quốc gia sở hữu tàu sân bay gồm: Mỹ, Anh, Pháp, Ấn Độ, Nga, Tây Ban Nha, Brazil, Ý và Thái Lan (nước duy nhất ở Đông Nam Á có tàu sân bay). Mỹ có nhiều tàu sân bay nhất, 12 chiếc.

Gần đây, Trung Quốc đang dần trở thành nước thứ 10 sở hữu tàu sân bay. Tuy nhiên, tàu chính thức lộ diện Thi Lang (hoán cải từ tàu Varyag mua từ Ukraine năm 1988) chưa chạy thử, tàu còn lại được giới chức úp mở là “đang được đóng”.

Có tin nói rằng, tàu thứ hai của Trung Quốc chính là tàu Ulyanovsk (Lenin) do Liên Xô thiết kế nhưng chưa được hoàn tất. Bằng cách nào đó, Trung Quốc có được bản vẽ thiết kế của con tàu này. Tin này tới nay chưa được kiểm chứng.

Các chuyên gia đánh giá, về độ hiện đại, không tàu của quốc gia nào sánh được với tàu lớp Nimitz chạy bằng năng lượng hạt nhân của Mỹ, kể cả tàu đang chuẩn bị chạy thử của Trung Quốc. Nga có một tàu là Đô đốc Kuznetsov, nhưng hoạt động cầm chừng vì thường gặp trục trặc động cơ.

Theo trang tin chuyên về quân sự topwar.ru (Nga), các chuyên gia quân sự Mỹ đánh giá, tàu Thi Lang của Trung Quốc có 4 điểm yếu cơ bản.

Thứ nhất, hoạt động ở vùng biển Thái Bình Dương, nơi tập trung trên 10 tàu sân bay các loại của Mỹ và đồng minh.

Thứ hai, máy bay J-15 (theo loan báo, sẽ được triển khai trên Thi Lang) về tính năng kỹ - chiến thuật còn thua kém nhiều so với máy bay F/A-18 dòng E hay F của Mỹ.

Tàu Thi Lang không có các loại máy bay trinh sát (AWACS) và tác chiến điện tử như trên tàu sân bay của Mỹ. Thứ ba, lực lượng hộ tống tàu sân bay của Trung Quốc không có các loại tàu hiện đại (tàu nổi, tàu ngầm) để có thể bảo vệ tàu hiệu quả.

Tàu HTMS Chakri Naruebet (Thái Lan).

Điểm yếu thứ tư và là lớn nhất: Trung Quốc vẫn chưa sản xuất được động cơ có đủ độ tin cậy cho tàu sân bay Thi Lang.
Hiện nay, quân đội Trung Quốc chỉ có hai tàu khu trục Type 052C hộ tống tàu sân bay Thi Lang. Những tàu này có số lượng tên lửa chỉ bằng một nửa và hệ thống radar không có khả năng theo dõi hàng chục mục tiêu như các tàu của Mỹ.

Lực lượng tàu ngầm hộ tống tàu sân bay Thi Lang còn kém hơn nhiều. Hải quân Trung Quốc có hai tàu ngầm Type 093, nhưng không có hệ thống thông tin liên lạc hiện đại dưới nước.

HTMS Chakri Naruebet là tàu sân bay đầu tiên và duy nhất đến thời điểm này của quân đội Thái Lan, có xuất xứ Tây Ban Nha, phiên chế vào quân đội hoàng gia Thái Lan năm 1997. Tàu này chỉ cho phép trực thăng và các chiến đấu cơ có khả năng cất hạ cánh thẳng đứng (như dòng Harriers) hoạt động. Tuy nhiên, do thiếu kinh phí, tàu gần như nằm lì ở căn cứ hải quân Satttahip.


Xuân Thủy

đọc tiếp »
of
 
Đối tác | Phong thuy | Tài Chính - Kế Toán | Truyện Tranh Online | Code1k.com | Movang.info | Quần Áo Rẻ Đẹp | 123 Mua Nhanh | SucManhSEO™ | Dịch Thuật Việt |

Hot Defence | ©2008 - 2010 All Rights Reserved by Khanh Nguyen | Website được xây dựng trên nền Blogspot | Xem tốt nhất trên trình duyệt FireFox.

Xin liên hệ Khanh Nguyen qua số ĐT: 016.93.94.95.96
Lượt khách : xxxxx Lượt truy cập : xxxxx
Đầu trang
Giữa trang
Cuối trang